• Số người truy cập: 475487
  • Số người đang online: 33
  • Ngày hôm qua: 184

Liên hệ hỗ trợ trực tuyến

  • Nhà Xuất Bản - ĐHTN
    Điện thoại: (0280) 3.840023
    Email: nxb.dhtn@gmail.com

Nông nghiệp

Ngày 03-09-2015

BỆNH PHỔ BIẾN Ở GIA CẦM

THÔNG SỐ SÁCH

Tên sách: BỆNH PHỔ BIẾN Ở GIA CẦM KHU VỰC MIỀN NÚI VÀ KỸ THUẬT PHÒNG TRỊ

Thể loại: Sách hướng dẫn

Tác giả: GS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan (cb)

Biên tập: Trần Thị Vân Trung - Dương Hoành

Khổ sách: 14.5 x 20.5 cm

Số trang: 120 trang

Giá bìa: 

CHI TIẾT SÁCH

I)THÔNG SỐ SÁCH

Tên sách: BỆNH PHỔ BIẾN Ở GIA CẦM KHU VỰC MIỀN NÚI VÀ KỸ THUẬT PHÒNG TRỊ

Thể loại: Sách hướng dẫn

Tác giả: GS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan (cb)

Biên tập: Trần Thị Vân Trung - Dương Hoành

Khổ sách: 14.5 x 20.5 cm

Số trang: 120 trang

Giá bìa: 

Loại bìa: Bìa mềm

Năm xuất bản: 2015

 

LỜI GIỚI THIỆU 

Chăn nuôi gia cầm vốn là một nghề truyền thống đã có từ lâu đời ở nước ta, song nó chỉ thực sự phát triển và trở thành một thứ hàng hóa thực phẩm thiết yếu trong khoảng vài chục năm trở lại đây. Trong những năm qua, nghề chăn nuôi gia cầm cũng đã góp một phần đáng kể vào tổng sản phẩm của ngành chăn nuôi của nước nhà.

Với lợi thế của mình, nghề chăn nuôi gia cầm có thể tận dụng được nguồn phụ phẩm nông nghiệp, tận dụng được nguồn lao động, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người dân.

Tuy nhiên, hiện nay nghề chăn nuôi gia cầm vẫn còn tồn tại chủ yếu dưới hình thức nhỏ lẻ (chiếm tới 70 – 80 %), đặc biệt là ở khu vực miền núi. Khu vực này, do địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, có nhiều dân tộc sinh sống, đặc biệt là các dân tộc ít người, trình độ dân trí và trình độ khoa học kĩ thuật còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy, việc áp dụng các biện pháp kĩ thuật trong chăn nuôi và phòng chống các dịch bệnh cho gia súc, gia cầm gặp nhiều khó khăn.

Mặt khác, bản thân nghề chăn nuôi gia cầm phát triển mạnh mẽ với sự đa dạng của mình cũng đã kéo theo các dịch bệnh xảy ra ngày một nhiều hơn, đặc biệt là từ năm 2000 cho đến nay. Chúng ta còn nhớ: Năm 2003 đại dịch cúm gia cầm H5N1 đã xảy ra trên phạm vi rộng, gây thiệt hại lớn về kinh tế. Kể từ đó đến nay, liên tục xuất hiện các dịch cúm gia cầm trong và ngoài nước dẫn đến những thiệt hại to lớn; bệnh còn có khả năng lây lan qua người và gây tử vong.

Để khắc phục tình trạng kể trên, cần phải có những giải pháp quan trọng như: Nâng cao nhận thức của người chăn nuôi; nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ thú y cơ sở và nâng cao kỹ thuật chăm sóc bảo vệ, phòng tránh dịch bệnh từ chính phía người chăn nuôi gia cầm.

Vì vậy, cuốn tài liệu “Bệnh phổ biến ở gia cầm khu vực miền núi và kỹ thuật phòng trị” sẽ cung cấp những kiến thức cơ bản về các bệnh phổ biến và gây tác hại lớn cho gia cầm ở khu vực miền núi, từ đó giúp người chăn nuôi gia cầm có thể nhận biết và có biện pháp phòng chống bệnh phù hợp và hiệu quả cao.

Trong quá trình biên soạn cuốn sách này không tránh khỏi những khiếm khuyết và thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được những phản hồi tích cực, những ý kiến góp ý chân thành của độc giả, nhất là từ đồng bào vùng miền núi phía Bắc -  để cuốn sách hoàn chỉnh hơn trong lần tái bản.

Xin chân thành cảm ơn!

  Tác giả

 

 

 

Chương 1 

 BỆNH TRUYỀN NHIỄM 

 

I. Bệnh cúm gia cầm (Avian Influenza) 

Bệnh cúm gia cầm là một bệnh truyền nhiễm cấp tính rất nguy hiểm đối với gia cầm, thuỷ cầm và các loài chim. Bệnh có thể lây trực tiếp sang người và gây tử vong.

Bệnh cúm gia cầm xảy ra lần đầu ở nước ta vào tháng 12/2003. Từ đó đến nay, đã có nhiều đợt dịch cúm gia cầm xảy ra ở nhiều tỉnh từ Bắc đến Nam.

1. Nguyên nhân gây bệnh                            

Bệnh cúm gia cầm do một virus cúm type A thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra, gồm nhiều phụ type khác nhau: H5N1, H5N2, H7N2, H7N7....

Virus cúm type A có kích thước 80 – 120 nanô mét (nm).

Dựa vào khả năng gây bệnh của virus, người ta đã phân loại các chủng virus cúm gia cầm thuộc type A thành 2 nhóm chính:

- Nhóm chủng virus có độc lực cao (H5, H7 ­và H9) có thể gây nhiễm với tỷ lệ chết đến 100% số gia cầm bệnh, bao gồm: H5N1, H7N7, H7N3.

- Nhóm chủng virus độc lực thấp: thường gây bệnh nhẹ ở gia cầm.

Người cũng có thể nhiễm các chủng virus này với các biểu hiện bệnh lý khác nhau, từ nhẹ cho tới nặng và thậm chí bị chết (do H7N7, H5N1).

* Sức đề kháng của virus cúm

Điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rõ rệt đến sức đề kháng của virus cúm H5N1. Virus thường sống lâu hơn trong không khí, ở độ ẩm tương đối thấp.

Virus có thể sống trong chuồng gia cầm tới 35 ngày, trong phân gia cầm bệnh tới 3 tháng.

Virus dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ 60 – 700C trong 5 phút. Trong tủ lạnh và tủ đá, virus sống được hàng tháng.

Những chất sát trùng thông thường tiêu diệt được virus cúm gia cầm như: xút 2%, crezin 5%, Chloramin B 3%, cồn 70 – 900, vôi bột hoặc nước vôi 10%, nước xà phòng đặc…

2. Triệu chứng và bệnh tích của bệnh

2.1. Triệu chứng

* Ở gà

Thời gian ủ bệnh từ vài giờ đến 3 ngày, kể từ khi nhiễm virus đến khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên.

- Gà sốt cao, ho, thở nhanh, khó thở, chảy nước mắt, chảy nước dãi ở mỏ, phù đầu và mặt, xuất huyết ở vùng da không có lông, đặc biệt ở chân; da tím bầm, lông xù, đứng tụm một chỗ, khát nước, bỏ ăn và chết rất nhanh.

- Có biểu hiện thần kinh như: đi lại không bình thường, loạng choạng, run rẩy, ngoẹo đầu, đi quay vòng.

- Gà bị tiêu chảy mạnh, phân loãng màu trắng hoặc trắng xanh.

- Gà đang đẻ năng suất trứng giảm rõ rệt, thậm chí gà đẻ trứng không có vỏ.

- Trong một số trường hợp, bệnh bùng phát nhanh, trước khi chết con vật không có biểu hiện lâm sàng.

* Ở vịt, ngỗng

- Vịt và ngỗng có triệu chứng ủ rũ, ăn ít, ỉa chảy, các xoang thường có hiện tượng sưng, tích nước.

- Nhiều trường hợp vịt nhiễm virus cúm gia cầm và bài thải virus ra ngoài khi không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng và bệnh tích.

2.2. Bệnh tích

- Bệnh tích bên ngoài:

+ Mào và yếm (tích) sưng to, phù quanh mắt.

+ Chỗ da không có lông bị tím bầm.

+ Chân bị xuất huyết

+ Vùng đầu xuất huyết và thâm tím.

- Bệnh tích bên trong:

+ Niêm mạc phế quản phù nề có chứa chất nhầy.

+ Xoang bụng tích nước hoặc có viêm dính.

+ Xuất huyết lốm đốm ở bề mặt niêm mạc

+ Xuất huyết toàn bộ đường tiêu hoá.

3. Chẩn đoán bệnh

- Chẩn đoán lâm sàng: bệnh xảy ra đột ngột, lây lan rất nhanh (gần 100% số con trong đàn bị bệnh). Gia cầm sốt, thở khó, ho, chảy nước mắt, nước dãi, xuất huyết ở vùng da không có lông…, tỷ lệ chết cao.

- Chẩn đoán vi sinh vật: Phân lập và định loại virus cúm từ bệnh phẩm của gia cầm bị bệnh.

- Chẩn đoán miễn dịch: Sử dụng các phương pháp ngưng kết hồng cầu (HI, HA), phương pháp miễn dịch gắn men (ELISA), phương pháp sinh học phân tử PCR… cho kết quả chẩn đoán nhanh và chính xác bệnh cúm gia cầm.

4. Biện pháp phòng trị bệnh

4.1. Phòng bệnh

- Tự túc con giống hoặc mua con giống từ vùng được cơ quan thú y xác nhận là an toàn với dịch cúm gia cầm.

- Không thả tự do thuỷ cầm ở các cánh đồng.

- Không tiêu thụ sản phẩm gia cầm (thịt, trứng) không qua kiểm dịch thú y.

- Thực hiện biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm gồm:

+ Cách ly triệt để: Không nuôi nhiều loại gia cầm và nuôi cùng các vật nuôi khác trong một trại, khi nhập đàn mới phải nuôi cách ly với đàn cũ ít nhất 2 tuần để theo dõi dịch bệnh.

+ Kiểm soát chặt chẽ vận chuyển động vật, sự đi lại của con người, phương tiện vận chuyển, dụng cụ vào trại hoặc qua trại chăn nuôi.

+ Vệ sinh phòng bệnh: Thực hiện vệ sinh, tiêu độc khử trùng trước khi vào khu vực chăn nuôi. Dụng cụ, phương tiện vận chuyển, máng ăn, máng uống phải được vệ sinh thường xuyên. Ở cổng ra vào trại có hố sát trùng, cửa mỗi ô chuồng có khay sát trùng. Sau mỗi lần xuất chuồng phải thu gom chất độn chuồng để ủ. Quét dọn và khử trùng chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi bằng một trong các loại hoá chất: Chloramin, Benkocid; để trống chuồng 7 – 10 ngày.

+ Nuôi dưỡng bằng thức ăn đảm bảo số lượng và chất lượng, cho uống nước sạch.

+ Sử dụng vắc xin tiêm phòng theo quy trình. Đối với gà, sử dụng vắc xin H5N2 của Intervet và vắc xin H5N1 của Trung Quốc. Đối với vịt và ngan: sử dụng vắc xin chủng H5N1 Trung Quốc. Vị trí tiêm: cơ lườn hoặc 1/3 dưới da cổ phía dưới.

- Giám sát dịch bệnh

+ Giám sát chặt chẽ, phát hiện sớm các ổ dịch mới xảy ra.

+ Khi có gia cầm bị bệnh và chết, hộ chăn nuôi phải báo cáo ngay cho cán bộ thú cơ sở.

4.2. Điều trị

- Khi gia cầm bị bệnh cúm, tuyệt đối không điều trị.

- Phải tiêu huỷ gia cầm trong vùng dịch: Không bán chạy, không vứt xác gia cầm chết ra ao, hồ, kênh, rạch, ruộng, vườn.

Phương pháp tiêu huỷ:

+ Chôn gia cầm trong hố sâu 2,5 – 3 mét, phun thuốc sát trùng hoặc đổ vôi bột lên mặt và lấp đất dày 1 – 1,5 mét, nện chặt.

+ Đốt gia cầm: Đốt dưới hố bằng củi, than, xăng, dầu. Sau đó lấp đất, nện chặt.

- Thực hiện tẩy uế, sát trùng tiêu độc toàn bộ chuồng trại, phương tiện và dụng cụ chăn nuôi.

Để trống chuồng ít nhất 2 tháng trước khi nuôi trở lại.

II. Bệnh Niu - cat - xơn (Niu-cát-xơn Disease, Pestis Avium) 

Bệnh Niu-cát-xơn (bệnh gà rù) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở gà.

Bệnh Niu-cát-xơn có ở khắp thế giới, nhưng lưu hành rộng rãi nhất là ở châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ.

Ở Việt Nam, bệnh đã có từ lâu và lan truyền suốt từ Bắc đến Nam, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi gia cầm.

1. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh Niu-cát-xơn do một loại virus có tên là Paramyxo chủng Avian 1 – NDV gây nên. Căn cứ vào độc lực của virus, chia làm 3 loại:

- Chủng virus có độc lực cao, thường gây bệnh cho gà ở thể quá cấp tính và cấp tính, còn gọi là dạng phát nhanh và kịch liệt.

- Chủng virus có độc lực trung bình, thường gây bệnh cho gà ở thể thứ cấp tính, thể bệnh trung bình hay còn gọi là dạng trung bình.

- Chủng virus có độc lực thấp, thường gây bệnh cho gà ở thể mạn tính, hay còn gọi là dạng phát chậm.

2. Triệu chứng và bệnh tích của bệnh

2.1. Triệu chứng

- Thể cấp tính (dạng phát nhanh): Thời gian ủ bệnh ngắn (3 – 5 ngày), ít khi kéo dài hơn. Gà bệnh có triệu chứng sau:

+ Sốt cao, lúc đầu khát nước và uống nhiều nước, sau đó ít uống nước, kém ăn hoặc bỏ ăn hoàn toàn, diều chứa đầy dịch và hơi, có ít thức ăn không tiêu.

+ Mào, yếm tím tái, mỏ chảy dãi, đứng rụt cổ hoặc đứng tụm một chỗ, tiếng kêu khác lạ.

+ Gà nhắm mắt, khó thở, khi thở có tiếng khò khè.

+ Tiêu chảy nặng, phân loãng màu trắng, trắng xanh.

+ Đôi khi thấy chảy nước mũi, nước mắt, mí mắt sưng.

+ Xung quanh hậu môn bẩn ướt.

+ Đối với gà đẻ, chỉ sau 1 – 2 ngày bị bệnh, năng suất trứng giảm rõ rệt.

Thể trạng gà suy nhược rất nhanh, chết rất nhanh, tỷ lệ chết cao từ 60 – 90%, thậm chí chết 100%.

- Thể thứ cấp tính (dạng phát trung bình)

Gà bệnh có các triệu chứng về hô hấp, tiêu hoá và thần kinh.

+ Triệu chứng hô hấp: Gà bị viêm mũi, viêm thanh quản, tiếng kêu yếu, sau đó ngạt thở và thường phát ra tiếng toóc toóc… Nước mũi, nước dãi chảy nhiều. Con vật khó thở, phải há rộng mỏ để thở.

+ Triệu chứng tiêu hoá: Gà ăn kém, thức ăn khó tiêu, lên men sinh hơi làm cho diều chứa nhiều hơi. Gà tiêu chảy mạnh, phân màu trắng xanh.

+ Triệu chứng thần kinh: Sau 1 - 2 ngày đã thấy một số gà bị liệt cánh hoặc chân, làm cho gà xã cánh hoặc nằm bẹp. Nhiều gà có biểu hiện động kinh hoặc nằm li bì không có phản xạ, co giật vùng cổ làm gà bị ngoẹo cổ về các phía.

- Thể mạn tính (dạng phát chậm)

Triệu chứng ho hen là chủ yếu và rất giống bệnh CRD, chỉ khác bệnh CRD ở chỗ: khi dùng thuốc đặc trị CRD như Tylosin, Tiamulin, Spiramycin… thì gà không khỏi bệnh. Đàn gà vẫn ăn uống nhưng ăn kém hơn bình thường, ngày nào cũng có gà chết lẻ tẻ, kéo dài trong nhiều tuần làm cho người chăn nuôi và cán bộ thú y ít nghĩ đến bệnh Niu-cát-xơn. Bệnh kéo dài hàng tháng, tỷ lệ chết từ 20 – 40%.

2.2. Bệnh tích

- Xác gà chết thường rất gầy, nhẹ và ướt. Mào yếm thâm tím, bóp mỏ thường chảy nhiều nước dãi và mũi. Xung quanh hậu môn có nhiều phân trắng, xanh bám vào, xung quanh mép hậu môn xuất huyết. Diều đầy hơi, có ít thức ăn.

- Toàn bộ đường tiêu hoá bị viêm xuất huyết, đôi chỗ có nốt loét hình tròn to bằng hạt đậu xanh. Viêm xuất huyết ruột, van hồi manh tràng, dạ dày tuyến và hậu môn là những bệnh tích điển hình của bệnh Niu-cát-xơn.

Bệnh tích ở đường hô hấp không điển hình.

3. Chẩn đoán bệnh

- Chẩn đoán lâm sàng và dịch tễ

Bệnh Niu-cát-xơn dễ nhận biết khi kết hợp giữa 3 phương pháp:

+ Xem xét kỹ đặc điểm lây lan bệnh.

+ Theo dõi triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh.

+ Mổ khám bệnh tích của gà bị bệnh chết.

- Chẩn đoán vi sinh vật và chẩn đoán huyết thanh

Trường hợp nghi ngờ do các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích không rõ rệt thì lấy bệnh phẩm gửi đi xét nghiệm huyết thanh học hoặc phân lập virus.

- Chẩn đoán phân biệt bệnh Niu-cát-xơn với bệnh cúm gà, bệnh CRD. 

+ Bệnh cúm gà: xuất huyết ở vùng da không có lông.

+ Bệnh CRD: gà thở khó, có tiếng hen nhưng không phát ra tiếng “toóc”

4. Biện pháp phòng trị

4.1. Biện pháp phòng bệnh: Để khống chế bệnh Niu-cát-xơn, cần áp dụng biện pháp phòng bệnh tổng hợp.

- Thực hiện vệ sinh thú y chặt chẽ trong chăn nuôi gà: vệ sinh chuồng trại, vệ sinh thức ăn, nước uống và dụng cụ chăn nuôi; định kỳ sát trùng tiêu độc chuồng trại, phương tiện vận chuyển và dụng cụ chăn nuôi gà bằng các thuốc sát trùng (Chloramine B 3%, nước vôi 10%...).

- Dùng vắc xin phòng bệnh triệt để.                 

Thường dùng hai loại vắc xin:

- Vắc xin Lasota: Dùng lần 1 cho gà 3 – 15 ngày tuổi (nhỏ mắt, mũi, miệng hoặc phun sương). Dùng lần 2 cho gà 18 – 30 ngày tuổi (cho uống).

- Vắc xin Niu-cát-xơn hệ I: Dùng cho gà từ 35 ngày tuổi trở lên (tiêm dưới da cánh lần 1 vào lúc 35 – 60 ngày tuổi, đối với gà sinh sản, tiêm lần 2 vào lúc 90 – 150 ngày tuổi).

4.2. Điều trị bệnh

Bệnh không điều trị được do không có thuốc đặc hiệu.

III. Bệnh đầu gà (Pox, Variola avium) 

Bệnh đậu gà là một bệnh truyền nhiễm lây lan chậm, thường hay xảy ra ở gia cầm nuôi thương mại (gà và gà tây). Bệnh phân bố khắp mọi nơi trên thế giới.

Tại Việt Nam, mầm bệnh luôn tồn tại và là nguy cơ gây bệnh cho gà, bệnh  phổ biến ở các địa phương miền núi phía Bắc.

1. Nguyên nhân gây bệnh

Virus đậu gà có tên là Fowlpox virus, kích thước khoảng 253 – 300 Kb. Virus bao gồm thể nhân ở trung tâm và hai tiểu thể ở mỗi bên mặt lõm, bên ngoài được bao bọc bởi lớp vỏ lipit.

Virus đậu gà có sức đề kháng rất cao, nó có thể tồn tại ở vảy đậu một thời gian dài trong điều kiện môi trường ẩm ướt.

Virus tồn tại được 9 ngày trong phenol 1% và formalin 0,1%, nhưng chết bởi KOH 1%. Với nhiệt độ, virus bị diệt sau 30 phút ở 500C, sau 8 phút ở 600C. Trong vảy đậu sấy khô, virus vẫn sống trong vài tháng hoặc thậm chí hàng năm.

2. Triệu chứng và bệnh tích

2.1. Triệu chứng

Thời gian nung bệnh ở gà, gà tây khoảng 4 – 10 ngày.

Bệnh có thể xảy ra ở thể da hoặc thể yết hầu (hay thể bạch hầu) hoặc thể hỗn hợp.

Triệu chứng của bệnh thay đổi tùy theo sức đề kháng của cơ thể, độc lực của mầm bệnh.

- Thể ngoài da

Thể ngoài da được đặc trưng bởi sự hình thành các nốt đậu ở mào, yếm, mí mắt, khóe mắt, khóe miệng và một số chỗ ít lông khác của cơ thể như mặt trong cánh, quanh hậu môn, da chân.

Mụn bắt đầu bằng những nốt sần nhỏ, màu nâu xám hay đỏ xám. Nốt sần to dần bằng hạt thóc, hạt đậu. Nếu mọc gần nhau nốt đậu sẽ làm da sần sùi. Gà có mào to, nốt đậu dày đặc có thể làm đầu gà to sù, sần sùi như hoa bắp cải. Nốt đậu mọc ở khóe mắt làm cho gà khó nhìn thấy thức ăn và nước uống, gà bị viêm kết mạc mắt, chảy nước mắt, con vật đau đớn khi mổ thức ăn làm cho chúng biếng ăn.

Màu sắc nốt đậu biến đổi dần từ màu sẫm sang màu vàng xám. Do các tế bào bên trong bị dung giải nên mụn đậu mềm dần rồi vỡ, chảy ra một chất mủ sánh như kem. Mụn đậu khô, đóng vảy. Vảy màu nâu sẫm, dần bị bóc đi, để lại những nốt sẹo nhỏ màu vàng xám. Gà bị sốt, bỏ ăn trong nhiều ngày. Trường hợp mụn đậu bị nhiễm trùng, quá trình viêm và hoại tử ở da trở nên trầm trọng, khi lành bệnh sẹo sẽ lớn hơn và sâu hơn.

- Thể yết hầu

Thể này thường gặp ở gà con. Gà khó thở, ủ rũ, biếng ăn do niêm mạc miệng, hầu, họng bị đau. Con vật sốt, từ miệng chảy ra một thứ nước nhớt có mủ lẫn màng giả. Nếu vạch mồm con vật, trên niêm mạc gốc lưỡi, khóe mồm, vòm miệng, niêm mạc hầu, họng và thanh quản phủ một lớp màng giả màu vàng xám. Khi màng giả tróc ra để lại niêm mạc màu đỏ tươi.

Quá trình viêm thường bắt đầu ở niêm mạc hầu, họng, khí quản, sau lan ra niêm mạc mũi và mắt. Viêm mũi làm gà chảy nước mũi. Trường hợp màng giả dày bịt kín cả xoang mũi có thể làm cho con vật ngạt thở. Viêm màng tiếp hợp mắt làm con vật chảy nước mắt đặc, dần dần biến thành một chất mủ màu vàng xám che kín cả mắt. Có trường hợp nặng, con ngươi phồng to, vỡ ra, chảy mủ, gà bị mù.

 - Thể hỗn hợp

 Thường xảy ra ở gà con. Cùng lúc trên con vật xảy ra hai thể bệnh là thể đậu ngoài da và thể đậu yết hầu. Tỷ lệ chết cao.

Quá trình bệnh tiến triển trong vòng 3 – 4 tuần. Nếu có kế phát khác, bệnh sẽ kéo dài hơn. Bệnh xảy ra với đàn gà đẻ làm giảm tỷ lệ đẻ.

2.2. Bệnh tích

Bệnh tích đặc trưng là hình thành các mụn đậu ngoài da hoặc niêm mạc. Nếu vảy mụn bong sớm, quan sát lớp biểu mô bị thoái hóa, xuất huyết, ướt, xung quanh có dịch thủy thũng. Khi mụn khô, tróc ra sẽ để lại sẹo.

Một số trường hợp quan sát thấy các nốt hoại tử ở bề mặt các cơ quan như: Gan, thận và lách hơi bị phù, có màu nâu, Tim nhạt màu do cơ tim bị thoái hóa. Niêm mạc ruột có thể tụ máu, phổi tụ máu và tích nước. Trong lòng khí, phế quản chứa nhiều dịch có lẫn bọt.

 3. Chẩn đoán bệnh

- Chẩn đoán lâm sàng

Có thể dựa vào những triệu chứng và bệnh tích đặc trưng của bệnh để chẩn đoán. Cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh như: bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm, bệnh Newcastle, bệnh nấm phổi, bệnh thiếu vitamin A.

- Phân lập virus

Có thể phân lập virus đậu từ bệnh phẩm bằng cách chủng dưới da cánh của gà. Bệnh tích ở da xuất hiện sau 5 – 7 ngày.

Trên phôi gà 9 – 12 ngày tuổi, khi gây nhiễm bệnh phẩm có chứa virus, bệnh tích là các nốt đậu xuất hiện trên màng nhung niệu sau 5 – 7 ngày.

4. Phòng và trị bệnh

4.1. Phòng bệnh

Vì virus có thể tồn tại lâu ngoài môi trường trong vảy mụn đậu bong tróc, có nguy cơ làm lây lan bệnh qua đường không khí cho gà, đặc biệt là gà con nên cần định kỳ vệ sinh chuồng trại.

- Phòng bệnh bằng vắc xin

Hiện nay trên thế giới dùng phổ biến vắc xin nhược độc để phòng bệnh đậu cho gà. Khi sử dụng vắc xin phải tuân thủ nghiêm ngặt theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Thời gian sử dụng vắc xin không được quá 2 giờ sau khi mở lọ vắc xin. Tất cả gà trong đàn phải được chủng đậu trong cùng một ngày. Nếu bệnh đậu lần đầu tiên xuất hiện trong đàn, số lượng gà bị bệnh ít thì những gà còn lại phải được chủng vắc xin.

Vắc xin đậu gà thường được chủng cho gà 2 tuần tuổi, gà đẻ cần chủng trước khi đẻ 1 – 2 tháng, hàng năm tái chủng, không được dùng vắc xin cho gà đang đẻ. Với gà tây dùng lần đầu lúc 2 – 3 tháng tuổi, tái chủng vào thời gian nghỉ giữa các kỳ đẻ.

Sau khi chủng vắc xin 7 – 10 ngày phải kiểm tra phản ứng sau tiêm: tại vị trí chủng vắc xin, da bị sưng và hình thành sẹo mới đạt yêu cầu. Đáp ứng miễn dịch thường hình thành sau 10 – 14 ngày. Cần kiểm tra ít nhất 10% số gà trong đàn.

4.2. Điều trị

Vì là bệnh do virus nên không có thuốc điều trị đặc hiệu. Khi bệnh xảy ra chỉ điều trị triệu chứng hoặc sử dụng kháng sinh để chống bội nhiễm. Đối với mụn đậu ngoài da, có thể bóc vảy, làm sạch các mụn đậu rồi bôi các thuốc sát trùng nhẹ như Glycerin 10%, CuSO4 5% hoặc thuốc mỡ kháng sinh (Tetracycline). Nếu gà bị đau mắt có thể dùng thuốc nhỏ vào mắt.

.............................

.............................

.............................

Sách cùng loại