• Số người truy cập: 427768
  • Số người đang online: 54
  • Ngày hôm qua: 206

Liên hệ hỗ trợ trực tuyến

  • Nhà Xuất Bản - ĐHTN
    Điện thoại: (0280) 3.840023
    Email: nxb.dhtn@gmail.com

Nông nghiệp

Ngày 03-09-2015

BỆNH PHỔ BIẾN Ở TRÂU, BÒ, DÊ KHU VỰC MIỀN NÚI VÀ KỸ THUẬT PHÒNG TRỊ

THÔNG SỐ SÁCH

Tên sách: BỆNH PHỔ BIẾN Ở TRÂU, BÒ, DÊ KHU VỰC MIỀN NÚI VÀ KỸ THUẬT PHÒNG TRỊ

Thể loại: Sách hướng dẫn

Tác giả: GS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan (cb)

Biên tập: Trần Thị Vân Trung - Dương Minh Nhật

Khổ sách: 14.5 x 20.5 cm

Số trang: 120 trang

Giá bìa: 

CHI TIẾT SÁCH

I)THÔNG SỐ SÁCH

Tên sách: BỆNH PHỔ BIẾN Ở TRÂU, BÒ, DÊ KHU VỰC MIỀN NÚI VÀ KỸ THUẬT PHÒNG TRỊ

Thể loại: Sách hướng dẫn

Tác giả: GS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan (cb)

Biên tập: Trần Thị Vân Trung - Dương Minh Nhật

Khổ sách: 14.5 x 20.5 cm

Số trang: 120 trang

Giá bìa: 

Loại bìa: Bìa mềm

Năm xuất bản: 2015

 NHÀ XUẤT BẢN TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU

 

LỜI NÓI ĐẦU

 Chăn nuôi gia súc ăn cỏ là nghề có truyền thống lâu đời ở nước ta. Tuy nhiên, cả trồng trọt và chăn nuôi ở vùng núi cao còn kém phát triển, chủ yếu tiến hành theo kinh nghiệm bản địa nên năng suất còn thấp và chưa tương xứng với tiềm năng vốn có. Đến nay, do sản xuất ngành trồng trọt và chăn nuôi quảng canh đã và đang là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng đói nghèo và hủy hoại môi trường sống ở miền núi. Phong tục tập quán sản xuất lạc hậu trong bối cảnh nhận thức của đồng bào còn hạn chế, cộng với trình độ học vấn chưa cao - từ đó gây nên những cản trở đối với việc tiếp thu và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất ở miền núi. Do đó việc nâng cao nhận thức và năng lực cho người dân là một trong những việc làm cần thiết nhằm thu hẹp khoảng cách về đời sống của đồng bào miền núi so với vùng đồng bằng.

Vì thế, chúng tôi đã tiến hành biên soạn tài liệu BỆNH PHỔ BIẾN Ở TRÂU, BÒ, DÊ KHU VỰC MIỀN NÚI VÀ KỸ THUẬT PHÒNG TRỊ, nhằm cung cấp những kỹ thuật chủ yếu nhất - giúp nông dân các địa phương miền núi có được những hiểu biết cần thiết và áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến phục vụ chăn nuôi.

Tài liệu gồm 3 chương:

Chương 1 - Bệnh truyền nhiễm

Chương 2 - Bệnh ký sinh trùng

Chương 3 - Bệnh nội khoa, sản khoa và ngộ độc 

Cuốn sách được biên soạn lần đầu nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót.

Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của các bạn đọc, đặc biệt là của đồng bào miền núi để lần xuất bản sau cuốn sách được hoàn chỉnh hơn.

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn.

                                                               TÁC GIẢ 

 

MỤC LỤC

  

Chương 1: BỆNH TRUYỀN NHIỄM 5

1.1. BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG (FOOT AND MOUTH DISEASE). 5

1.2. BỆNH ĐẬU DÊ (Goat pox). 9

1.3. BỆNH VIÊM LOÉT MIỆNG TRUYỀN NHIỄM Ở DÊ (Contagious Ecthyma)  13

1.4. BỆNH NHIỆT THÁN (Anthrax). 17

1.5. BỆNH LAO (Tubercullosis). 25

1.6. BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG (Pasteurellosis). 30

1.7. BỆNH TIÊU CHẢY DO E. COLI (Colibacillosis). 35

1.8. BỆNH XOẮN KHUẨN (Leptospirosis). 39

1.9. BỆNH SẢY THAI TRUYỀN NHIỄM (Brucellois). 44

1.10. BỆNH UỐN VÁN (Tetanus). 49

 

Chương 2: BỆNH KÝ SINH TRÙNG 54

2.1. BỆNH TIÊN MAO TRÙNG (Trypanosomiasis). 54

2.2. BỆNH SÁN LÁ GAN (Fasciolosis). 58

2.3. BỆNH SÁN DÂY (Monieziosis). 61

2.4. BỆNH GIUN ĐŨA BÊ NGHÉ (Neoascariosis). 64

2.5. BỆNH GIUN XOĂN DẠ MÚI KHẾ.. 66

 

Chương 3: BỆNH NỘI KHOA, SẢN KHOA VÀ NGỘ ĐỘC 71

3.1. BỆNH CHƯỚNG HƠI DẠ CỎ... 71

3.2. BỆNH VIÊM DẠ DÀY - RUỘT.. 75

3.3. BỆNH VIÊM PHỔI (Pneumonia cromposa). 81

3.4. BỆNH VIÊM VÚ... 85

3.5. BỆNH VIÊM TỬ CUNG... 89

3.6. BỆNH VIÊM ÂM ĐẠO... 92

3.7. HỘI CHỨNG NGỘ ĐỘC HOÁ CHẤT.. 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO. 100

PHỤ LỤC... 102

 

 

 

Chương 1

BỆNH TRUYỀN NHIỄM 

 

1.1. BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG (FOOT AND MOUTH DISEASE) 

Bệnh lở mồm long móng là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây lan nhanh và mạnh, gây thiệt hại nghiêm trọng cho chăn nuôi trâu, bò, dê.

1.1.1. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh gây ra do bởi 7 typ virus: A, O, C, ASIA1, SAT 1, SAT 2, SAT 3 với hơn 65 phân typ. Ở khu vực Đông Nam Á thường thấy 3 typ là: O, A, ASIA1. Bệnh lở mồm long móng lây lan qua tiếp xúc giữa động vật khỏe với động vật, sản phẩm động vật và thức ăn, nước uống, chất thải, dụng cụ, phương tiện vận chuyển có mang mầm bệnh.

Ở pH = 6,9 virus bị diệt trong 1 phút, ngư­ợc lại virus rất bền vững trong môi trường kiềm. Nhiệt độ môi trường 45 - 560C làm tan rã protein, dẫn đến mất khả năng gây bệnh của virus. Ở 850C virus bị tiêu diệt trong vòng 1 phút. Ở nhiệt độ 20 - 250C virus sống được một số tuần. Virus có sức đề kháng với axeton, chlorofooc, ête, phênol, như­ng rất dễ bị tiêu diệt bởi axit, formol. Trong môi trường khô mùa hè, virus sống 14 ngày, mùa đông 4 tuần.

1.1.2. Triệu chứng và bệnh tích

1.1.2.1. Triệu chứng 

* Trâu, bò: Thời gian nung bệnh từ 2 - 5 ngày, nhiều nhất là 21 ngày.

Trâu, bò bị bệnh có triệu chứng: 2, 3 ngày đầu sốt cao trên 400C, kém ăn hoặc bỏ ăn, miệng chảy nhiều nước bọt trắng như bọt xà phòng; bị viêm dạng mụn nước ở lợi, lưỡi, vành mũi, vành móng, kẽ móng, đầu vú. Khi mụn nước vỡ ra làm lở loét mồm và dễ làm long móng.

Sau khi phát bệnh 10 - 15 ngày, con vật có thể khỏi về triệu chứng lâm sàng nhưng mầm bệnh vẫn còn tồn tại trong con vật (2 - 3 năm đối với trâu, bò, 9 tháng đối với cừu, 4 tháng đối với dê) và thải mầm bệnh ra môi trường làm phát sinh và lây lan dịch bệnh (Xem hình 1 phần phụ lục).

* Dê: Thời kỳ nung bệnh 2 - 8 ngày, biểu hiện đầu tiên là thân nhiệt tăng lên 41,50C, kéo dài 2 - 4 ngày. Các mụn thư­ờng mọc trư­ớc hết ở miệng, sau đó mới đến chân, mụn mọc th­ưa. Mụn ở trong miệng chủ yếu là ở phần lợi của hàm trên, quanh miệng và lư­ỡi. Mụn sau khi vỡ nhanh chóng được phủ một lớp tế bào biểu mô. Triệu chứng biến đổi ở móng đối với dê ít thể hiện rõ bằng ở miệng.

Thể hủy diệt của bệnh lở mồm long móng xảy ra khi virus phát triển nhân lên ở cơ tim, cơ vân, làm rối loạn chức năng của tim, hệ thống tuần toàn và hệ cơ vân. Trường hợp này tỷ lệ chết của gia súc cao 70 - 100%. Triệu chứng của thể bệnh này thường xuất hiện ở đư­ờng tiêu hoá hoặc viêm phổi và chết nhanh trong vòng 12 - 20 giờ khi ch­ưa kịp tạo ra những biến đổi ở miệng và móng.

1.1.2.2. Bệnh tích 

Bệnh tích điển hình của bệnh lở mồm long móng là các mụn và sẹo ở miệng và móng. Mụn có kích th­ước khác nhau, dịch trong mụn chứa đầy bạch cầu. Sau khi mụn vỡ ra thấy vết loét màu hồng. Ở thể hủy diệt có những biến đổi cơ vân, cơ tim, có thể gây viêm gan, thận và biến đổi ở lách.

1.1.3. Chẩn đoán

- Chẩn đoán phân biệt: Căn cứ vào triệu chứng, bệnh tích của con vật mắc bệnh, đặc biệt là căn cứ vào loài vật cảm nhiễm để phân biệt bệnh lở mồm long móng với một số bệnh truyền nhiễm khác như: Bệnh viêm mụn nước ở miệng, bệnh viêm loét miệng truyền nhiễm…

- Chẩn đoán phòng thí nghiệm:

Bệnh phẩm lấy để chẩn đoán là các mụn ở lư­ỡi, miệng hoặc vú nh­ưng phải là những mụn ch­ưa vỡ. Thời gian lấy tốt nhất là lúc mụn mọc vào ngày thứ 2 - 3, khi dịch ở bên trong mụn còn trong. Trư­ớc khi cắt mụn phải dùng n­ước đun sôi để nguội rửa sạch, cắt lấy ít nhất 2 gam bệnh phẩm cho vào dung dịch photphat glyxerin (pH = 7,6), bảo quản trong phích đá, sau đó bao gói cẩn thận, ghi đầy đủ thông tin cần thiết vào phiếu gửi bệnh phẩm rồi gửi đến nơi chẩn đoán. Phòng thí nghiệm sẽ tiến hành phân lập virus trên động vật thí nghiệm hoặc trên môi trường tế bào và xác định serotyp bằng phản ứng kết hợp bổ thể với huyết thanh định typ chuẩn. Một số phòng thí nghiệm định typ và subtyp bằng ph­ương pháp ELISA kháng nguyên hoặc phư­ơng pháp PCR.

1.1.4. Biện pháp phòng trị bệnh

1.1.4.1. Phòng bệnh

- Phòng bệnh bằng vắc xin.

Tuỳ theo sự lưu hành của virus mà sử dụng các loại vắc xin cho phù hợp với typ gây bệnh. Hiện nay, người ta dùng vắc xin đơn giá typ O để tiêm phòng cho trâu, bò, lợn ở các địa phương chỉ lưu hành typ O, dùng vắc xin tam giá chế từ virus typ O, A, ASIA1 để phòng bệnh cho trâu, bò tại các địa phương có lưu hành 2 typ trở lên.

Vắc xin được tiêm 2 liều, cách nhau 3 tuần; tiêm theo định kỳ 6 tháng/ lần cho toàn đàn trâu, bò lợn ở những vùng có lưu hành bệnh.

Vắc xin Aftopor và Aftovax khác nhau về chất bổ trợ:

+ Vắc xin Aftopor có chất bổ trợ là nhũ dầu kép, được dùng tiêm bắp.

+ Vắc xin Aftovax có chất bổ trợ là keo phèn, được dùng tiêm dưới da. Vắc xin này có thời gian sinh miễn dịch sau khi tiêm phòng ngắn (6 - 7 ngày), Vì vậy, sử dụng vắc xin này tiêm phòng chống dịch có hiệu quả tốt (Xem hình 2).

- Thực hiện tốt vệ sinh thú y: Giữ gìn chuồng luôn khô sạch, định kỳ phun thuốc diệt trùng, ủ phân diệt mầm bệnh.

- Kiểm dịch nghiêm ngặt khi xuất nhập bò sữa để loại trừ bò mang virus.

- Thực hiện các quy chế phòng chống bệnh lở mồm long móng đúng theo pháp lệnh thú y.

1.1.4.2. Điều trị

Cho đến nay vẫn không có thuốc điều trị đặc hiệu vì mầm bệnh là virus. Ở những nước phát triển bệnh đã được khống chế, nếu xảy ra thì tốt nhất là giết toàn đàn và thiêu hủy xác chết.

1.2. BỆNH ĐẬU DÊ (Goat pox) 

Bệnh đậu ở dê là một bệnh truyền nhiễm lây lan nhanh, với đặc trưng là sốt cao, tiết dịch ở mắt và mũi, các mụn đậu xuất hiện ở nhiều chỗ trên da mặt và niêm mạc miệng, mũi. Bệnh gây nhiều thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi dê.

1.2.1. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh đậu ở dê là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, được Tổ chức dịch tễ thế giới (OIE) xếp vào bảng A các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Pháp lệnh thú y của Việt Nam đã xếp bệnh đậu dê vào danh mục các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm phải công bố dịch.

Bệnh do chủng virus thuộc giống Capripox virus, họ Poxviridae gây nên. Bệnh biểu hiện với các thể từ mãn tính đến cấp tính. Khi quan sát dưới kính hiển vi điện tử, Capripox virus có kích thước hạt virus khoảng 300 × 270 × 200 nm, lõi hình dùi trống, hai thể bên chạy dọc theo lõi, bên ngoài hạt virus được bao bọc bởi lớp vỏ lipid kép, bên trên có các sợi protein. Virus đậu dê chứa hệ gen cấu trúc AND xoắn kép, trọng lượng khoảng 73 - 91 Mda.

Virus đậu dê có sức đề kháng cao với nhiệt độ (bị diệt ở 560C trong 2 giờ). Những chất sát trùng thông thường diệt virus nhanh chóng. Virus có thể sống sót trong một thời gian dài trên vật chủ hay ngoài môi trường (chúng có thể tồn tại 6 tháng trên nền chuồng và 3 tháng trong vẩy mụn khô nằm trên da của con vật bị bệnh). Virus trong dịch lâm ba được bảo quản trong glyxerin ở nhiệt độ lạnh giữ được độc lực trong nhiều tháng (Xem hình 3).

1.2.2. Triệu chứng và bệnh tích

1.2.2.1. Triệu chứng của bệnh

Thời gian ủ bệnh ở dê là 5 - 8 ngày, nhưng cũng có thể tới 21 ngày.

Dê bệnh biểu hiện: Sốt cao 40 - 420C, kéo dài 3 - 5 ngày, thở nhanh, mí mắt sưng, chảy nước mắt và dịch mũi, kém ăn, nằm một chỗ, đứng với dáng điệu lưng cong. Khoảng 2 ngày sau các nốt đỏ xuất hiện ở các vùng ít lông như bẹn, bìu dái, mặt dưới đuôi, vú và âm hộ. Các mụn nhỏ như hạt đỗ, hạt ngô. Da ở xung quanh mụn đỏ hơn bình thường và sưng do thủy thũng. Mụn lúc đầu nhỏ, sau mọng trắng, vỡ loét ra, chảy dịch, sau đó đóng vảy màu nâu đen (vảy đậu). Vảy bong ra để lại vết sẹo đỏ. Các mụn đậu lại mọc lên trên đám da khác. Quá trình này dễ quan sát ở những vùng da bị rụng lông, niêm mạc miệng, niêm mạc mũi.

Con vật có thể phục hồi trong vòng 3 - 4 tuần, tuy nhiên các vết sẹo vẫn còn tồn tại trong thời gian dài (2 - 3 tháng). Vảy đậu trên cơ thể con bệnh có thể mang mầm bệnh trong nhiều tháng sau đó. Bệnh xảy ra trầm trọng hơn trên các cá thể có sức đề kháng yếu như dê non, dê già hay con cái đang tiết sữa (Xem hình 4).

Biến chứng thường gặp: Các mụn đậu mọc ở kết mạc mắt khi vỡ ra có thể làm cho dê bị mù. Mụn đậu mọc ở niêm mạc mũi và khí quản, gây viêm màng giả, có thể làm cho dê thở khó, suy hô hấp. Mụn đậu mọc ở quanh núm vú gây lở loét quanh núm vú.

Nếu có nhiễm trùng thứ phát do các loại vi khuẩn thì các mụn loét mưng mủ, vỡ loét, tạo thành vết thương. Nếu dê lành bệnh sẽ có miễn dịch bền vững và lâu dài với virus đậu.

1.2.2.2. Bệnh tích 

Dê mang thai thường sẩy thai khi bị bệnh đậu.

Một số dê non mắc bệnh còn thấy: Ỉa chảy nặng, chết nhanh khi virus đậu tác động đến niêm mạc ruột.

Khi mổ khám, ngoài bệnh tích ngoài da còn thấy trên niêm mạc thanh quản, khí quản, thực quản, dạ cỏ, dạ múi khế, ruột già, âm đạo, vùng vỏ thận, gan và dịch hoàn những bệnh tích đậu tương tự trên da. Bệnh tích ở phổi thường gặp là các nốt đậu nhỏ màu xám nhạt lan tràn và là một trong những nguyên nhân chính làm dê bị chết vì suy hô hấp. Ngoài ra, người ta còn thấy bại huyết (xuất huyết dưới tương mạc, thoái hóa các khí quan, sưng hạch cấp tính) do kết hợp với một số bệnh nhiễm khuẩn khác.

1.2.3. Chẩn đoán bệnh

- Dựa vào triệu chứng lâm sàng: Dê có biểu hiện sốt, có mụn đậu xuất hiện ở mặt da, trên niêm mạc mũi, miệng và quanh mắt.

- Chẩn đoán phân biệt: Cần chẩn đoán phân biệt bệnh đậu dê với các bệnh sau: Bệnh viêm da có mủ truyền nhiễm (còn gọi là bệnh lở miệng), bệnh lưỡi xanh, bệnh viêm da do nấm, bệnh nấm vảy của cừu, bệnh ghẻ.

- Chẩn đoán phòng thí nghiệm:

Có thể xác định bệnh đậu dê bằng cách:

+ Phân lập virus: Nuôi cấy trên môi trường tế bào thận dê, dịch hoàn dê để xác định virus đậu.

+ Dùng các phản ứng huyết thanh: Phản ứng kháng thể huỳnh quang gián tiếp, phản ứng miễn dịch khuếch tán trên thạch.

+ Kỹ thuật PCR: Kỹ thuật PCR có độ nhạy cao, cho phép xác định chính xác virus đậu dê trong khi các phương pháp trên có thể xảy ra phản ứng chéo với một số virus khác.

1.2.4. Biện pháp phòng trị bệnh

1.2.4.1. Phòng bệnh 

- Tiêm phòng vắc xin cho đàn dê với tỷ lệ tiêm phòng cao và đúng quy trình có thể đạt hiệu quả phòng bệnh cao. Hiện nay, có thể sử dụng vắc xin vô hoạt dạng lỏng của Xí nghiệp thuốc Thú y Trung ương để tiêm phòng bệnh đậu cho đàn dê (Xem hình 5).

- Biện pháp phòng bệnh đậu dê chủ yếu là tăng cường chăm

sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh phòng bệnh cho đàn dê.

1.2.4.2. Trị bệnh 

Không có thuốc đặc hiệu điều trị bệnh đậu. Chỉ điều trị triệu chứng và phòng nhiễm trùng kế phát.

Cách điều trị các mụn đậu và nhiễm khuẩn kế phát như sau:

- Bôi một trong các dung dịch sát trùng lên các mụn đậu: Thường dùng dung dịch Blue Methylen 1% hoặc dung dịch Iodin 1%.

- Khi có hiện tượng viêm nhiễm do vi khuẩn ở mũi, miệng và viêm khí quản thì điều trị bằng kháng sinh như Ampicilin (liều 30 mg/ kg TT) phối hợp với Kanamycin (liều 20 mg/ kg TT), dùng liên tục 5 - 6 ngày, kết hợp với sử dụng các loại thuốc trợ sức, trợ lực: Vitamin B1,Vitamin C và cafein.

- Trong thời gian điều trị giữ chuồng khô, sạch và ấm vào mùa đông.

Đối với những khu vực có dê đã mắc bệnh đậu cần phải:

- Tiêu hủy toàn bộ đàn dê mắc bệnh bằng cách chôn hoặc đốt.

- Thực hiện các biện pháp tiêu độc, sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi và phương tiện vận chuyển dê.

- Kiểm soát chặt chẽ vận chuyển động vật và sản phẩm động vật trong vùng dịch.

- Kiểm dịch gia súc từ nơi khác đưa về.

- Tiêm phòng bao vây vùng có dịch và các vùng có nguy cơ lây lan bệnh đậu dê.

1.3. BỆNH VIÊM LOÉT MIỆNG TRUYỀN NHIỄM Ở DÊ (Contagious Ecthyma) 

Bệnh viêm loét miệng truyền nhiễm ở dê phân bố phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, bệnh đã xảy ra ở nhiều tỉnh, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi dê. Bệnh viêm loét miệng truyền nhiễm ở dê là bệnh lây lan nhanh, mạnh và đặc biệt bệnh có thể lây sang người.

1.3.1. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh viêm loét miệng truyền nhiễm ở dê do một loại virus (Parapox virus) hướng thượng bì gây ra. Bệnh xảy ra ở dê mọi lứa tuổi. Đặc điểm của bệnh là gây ra hiện tượng viêm loét miệng, làm cho dê không ăn được, dê con không bú được dẫn đến sức đề kháng giảm sút, dễ kế phát các bệnh khác.

   Virus dễ bị sức nóng tiêu diệt (5 phút ở 600C) nhưng chống đỡ được lâu khi bị khô (trong vảy khô virus vẫn sống sót được hàng tháng). Vài tháng sau khi lành bệnh, còn tìm thấy virus trong những mảnh thượng bì tróc ra, phơi nắng 42 giờ vẫn chưa diệt được virus trong các mảnh thượng bì này. Những vảy rơi xuống đất có thể là nguồn truyền bệnh quan trọng cho những con khác trong thời gian vài tháng hoặc thậm chí một năm sau. Những con vật mang trùng hoặc những con bị bệnh mạn tính là nguồn reo rắc mầm bệnh trong tự nhiên.

1.3.2. Triệu chứng và bệnh tích

- Thời kỳ đầu của bệnh xuất hiện các nốt nhỏ bằng hạt đậu xanh ở trên bờ môi, mép của dê. Sau đó, các mụn phát triển nhanh chóng thành các mụn nước, mụn mủ rồi vỡ ra và tạo ra vẩy cứng và xù xì trên môi và mép dê. Khi cậy ra dưới lớp vẩy là lớp keo nhầy màu vàng, đôi khi có lẫn máu và mủ.

- Các vết loét xuất hiện ở những vị trí da mỏng khác nhau trên cơ thể như ở tai, bụng, đầu vú, núm vú, bìu dái, âm hộ. Đặc biệt, ở dê non các mụn loét xuất hiện ở lưỡi và niêm mạc miệng làm dê bị bệnh rất đau đớn, chảy nước dãi, nước dãi cò mùi hôi thối khó chịu, dê kém ăn, sức đề kháng của cơ thể giảm, vì vậy dễ bị nhiễm trùng gây các bệnh kế phát như viêm phổi, viêm ruột...

- Thời kỳ đầu dê bị bệnh vẫn ăn uống bình thường, về sau do những chỗ tổn thương bị nhiễm trùng kế phát làm cho con vật đau đớn, vật có thể giảm ăn hoặc bỏ ăn.

- Ngoài ra, các tổn thương còn xuất hiện ở các phần khác của cơ thể như tai, mắt, vú và cơ quan sinh dục, có khi còn xuất hiện trong bộ máy tiêu hóa của dê.

- Trong quá trình bệnh (1- 4 tuần), nếu không bị nhiễm trùng kế phát thì các tổn thương sẽ tự khỏi, các mô lành lại và không để lại sẹo. Tuy nhiên, thường thì các vết loét sẽ bị nhiễm trùng kế phát làm cho các tổn thương trầm trọng hơn. Những dê đang cho sữa khi núm vú bị tổn thương thường nhiễm trùng kế phát gây viêm vú nghiêm trọng, dẫn đến mất khả năng cho sữa (Xem hình 6).

1.3.3. Chẩn đoán

- Căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng của bệnh là nổi mụn nước ở môi, mép, đầu vú, núm vú, âm hộ, bìu dái nhưng không xuất hiện mụn nước ở móng chân. Cần chẩn đoán phân biệt với bệnh lở mồm long móng.

- Lấy bệnh phẩm (vẩy, mụn) gửi đi xét nghiệm virus ở các phòng thí nghiệm hiện đại.

- Chẩn đoán phân biệt: với bệnh lở mồm long móng.

1.3.4. Biện pháp phòng trị bệnh

1.3.4.1. Phòng bệnh

- Để phòng bệnh viêm miệng truyền nhiễm, tốt nhất là duy trì một đàn dê không mắc bệnh. Dê mới mua về phải được nuôi cách ly ít nhất là 2 tuần. Tuy nhiên, một số con có thể không thể hiện triệu chứng. Do đó, tốt nhất là không mua dê bị bệnh hoặc dê ở những đàn đã mắc bệnh.

- Có thể tiêm vắc xin phòng bệnh viêm miệng truyền nhiễm cho dê. Chỉ tiêm phòng cho những dê khỏe mạnh và không nhiễm bệnh. 

1.3.4.2. Điều trị

Đây là bệnh do virus gây ra nên việc điều trị bằng kháng sinh không có hiệu quả.

* Điều trị cục bộ:

- Dùng chất chua như: chanh, khế... sát vào vết loét, sau đó dùng xanh metylen bôi vào vết loét hoặc có thể dùng dung dịch Iod-Tetran bôi vào vết loét ngày 2 - 3 lần. Những dê có triệu chứng nhiễm trùng kế phát thì phải dùng kháng sinh như: tetracyclin, ampicillin hoặc các thuốc kháng sinh dạng mỡ bôi vào vết thương cho dê.

- Cách pha chế hỗn hợp Iod-Tetran: Hỗn hợp Iod - Tetran gồm:

Cồn Iod 10%: 150 ml; Bột sulfamid: 20 gam; Penicillin, streptomycin mỗi thứ 06 lọ

Trộn đều rồi cho mật ong vừa đủ 01 lít, đậy nút chặt. Khi nào cần dùng chiết ra lọ nhỏ. Cách dùng: Bôi vào vết thương cho dê bệnh.

* Điều trị toàn thân: Chỉ điều trị toàn thân bằng thuốc kháng sinh khi những tổn thương bị nhiễm trùng kế phát nặng. Có thể dùng gentamycin, streptomycin kết hợp với penicillin tiêm bắp thịt cho dê.

Trường hợp dê bị viêm vú thì phải dùng kháng sinh điều trị viêm vú cho dê.

- Lưu ý chỉ khi nào dê khỏi hoàn toàn mới được thả chung vào đàn.

- Giữ môi trường thông thoáng, khô ráo, sạch sẽ. Nuôi dưỡng, chăm sóc tốt dê con, nhất là sau khi vận chuyển xa. Cách ly ngay những dê bệnh, vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, cho ăn thức ăn dễ tiêu. Nếu dê con mắc bệnh thì không cho bú trực tiếp mà vắt sữa mẹ cho dê uống để tránh lây lan sang vú mẹ. Hàng ngày phải thu dọn, vệ sinh tiêu độc khu vực nuôi dê mắc bệnh; dụng cụ bôi thuốc điều trị xong phải được sát trùng kỹ…

1.4. BỆNH NHIỆT THÁN (Anthrax) 

Bệnh nhiệt thán (Anthrax) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính chung cho nhiều loại động vật, chủ yếu là động vật ăn cỏ (trâu, bò, dê, cừu) và có thể lây sang người. Bệnh do trực khuẩn Bacillus anthracis gây ra với đặc điểm: Con vật bị bệnh thường sốt cao, tổ chức liên kết thấm máu và tương dịch, máu đen thẫm, đặc, khó đông, lách sưng to, mềm nhũn.

Bệnh có tính chất địa phương, xảy ra theo mùa, nhiều nhất là mùa nóng ẩm, mưa nhiều.

1.4.1. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh do trực khuẩn Bacillus anthracis gây ra.

Bacillus anthracis là loại trực khuẩn to, 2 đầu vuông, kích thước 1 - 1,5mm x 4 - 8mm. Vi khuẩn hiếu khí, không có lông, không di động, có hình thành nha bào và giáp mô. Bắt màu Gram dương.

Trong môi trường thiếu dinh dưỡng vi khuẩn xếp thành chuỗi dài, hình thành nha bào hình bầu dục nằm ở giữa thân vi khuẩn.

Nếu làm tiêu bản vi khuẩn từ bệnh phẩm, thấy vi khuẩn hình thành chuỗi ngắn hoặc đứng riêng lẻ và được bao bọc bằng giáp mô.

- Sức đề kháng của vi khuẩn

+ Vi khuẩn có sức đề kháng kém: Ở 550C vi khuẩn chịu được 55 phút, 600C được 15 phút, 1000C chết ngay.

Ánh sáng mặt trời diệt vi khuẩn sau 10 giờ, trong bóng tối vi khuẩn sống được 2 - 3 tuần. Trong xác chết vi khuẩn tồn tại 2 - 3 ngày. Các chất sát trùng diệt vi khuẩn nhanh chóng.

+ Nha bào của vi khuẩn có sức đề kháng mạnh.

Đun sôi 1000C nha bào chịu được 15 phút, hấp ướt 1200C trong 10 phút, sấy khô 1800C chết sau 30 phút. Trong đất, nha bào tồn tại được 20 - 30 năm; trong phân gia súc bệnh nha bào tồn tại 15 tháng. Da của súc vật ngâm muối hay vôi, nha bào vẫn tồn tại rất lâu.

Các chất sát trùng phải pha đặc và tác động thời gian lâu mới diệt được nha bào.

1.4.2. Triệu chứng và bệnh tích

1.4.2.1. Triệu chứng

Thời gian ủ bệnh 3 - 7 ngày, một số trường hợp chỉ từ vài tiếng đến 2 ngày.

Bệnh thường diễn ra ở các thể: Quá cấp tính, cấp tính, thứ cấp tính hoặc mạn tính.

- Thể quá cấp tính

Xảy ra ở đầu ổ dịch, bệnh thường xuất hiện đột ngột, con vật run rẩy, má hơi sưng, thở hổn hển, mồ hôi vã ra, niêm mạc đỏ ửng, hoặc tím bầm. Con vật sốt cao 40,5 - 420C, nghiến răng, mắt đỏ, quay cuồng, loạng choạng rồi quỵ xuống, đầu gục, lưỡi thè ra ngoài, các lỗ tự nhiên chảy máu. Con vật chết trong vài giờ. Có những con bất thần nhảy xuống nước hoặc chạy đâm vào bụi rậm mà chết.

- Thể cấp tính

Vật sốt cao 40 - 410C, tim đập nhanh, lông dựng, ủ rũ, mắt đờ đẫn. Con vật bỏ ăn, mất nhu động ruột, phân đen lẫn máu, nước tiểu lẫn máu. Thở nhanh, niêm mạc đỏ thẫm, có những vệt xanh tím. Mồm, mũi có bọt màu hồng lẫn máu.

Hầu, ngực, bụng thường sưng, nóng, đau.

Sau khi bệnh phát ra 2 ngày, con vật vật vã, lịm dần rồi chết do ngạt thở.

- Thể thứ cấp tính

Giống thể cấp tính nhưng nhẹ hơn. Bệnh kéo dài 5 - 7 ngày, con vật sốt cao, bỏ ăn, niêm mạc mắt, miệng, hậu môn đỏ, vật thể hiện buồn bã, mắt nhắm, thích nằm, nhu động dạ cỏ rất yếu. Những chỗ da mỏng thường sưng, tạo ra các ung loét ngoài da, chảy nước vàng có lẫn máu.

- Thể ngoài da

Thường thấy vào cuối ổ dịch. Bệnh thể hiện bằng những ung nhiệt thán ở cổ, vai, ngực, hông hoặc trước đùi. Ban đầu ung sưng, nóng, đau, sau đó lạnh dần và không đau, giữa ung thối, loét màu đỏ thẫm và chảy nước vàng. Hạch lympho hầu, họng sưng to, bệnh tiến triển 5 - 8 ngày. Nếu tích cực can thiệp, bệnh có thể khỏi (Xem hình 7).

1.4.2.2. Bệnh tích 

Khi con vật nghi mắc bệnh nhiệt thán chết, cấm không được mổ. Người ta chỉ mổ để khám nghiệm khi cần thiết, nhưng phải đảm bảo đủ phương tiện phòng hộ và sát trùng tốt.

- Súc vật chết do bệnh nhiệt thán bụng trương to rất nhanh, xác chóng thối. Tất cả các lỗ tự nhiên chảy máu tươi, máu đen đặc và khó đông. Do con vật trương bụng, áp lực của xoang bụng lớn, đẩy một phần trực tràng ra ngoài gây lòi dom.

- Các hạch lympho đều tụ máu, màu tím sẫm, sưng to, nhất là hạch hầu, hạch trước vai và hạch đùi.

- Tổ chức liên kết dưới da tụ máu, thấm tương dịch màu vàng, đặc biệt ở các ung thủy thũng, thịt tím tái, có thấm máu và tương dịch.

- Phổi tụ máu nặng, có màu đen. Khí quản có máu lẫn bọt.

- Lá lách sưng to gấp 2 - 4 lần, tím sẫm, tổ chức lách nát nhũn như bùn.

1.4.3. Chẩn đoán bệnh

1.4.3.1. Chẩn đoán lâm sàng và dịch tễ học 

Trong ổ dịch, cần quan sát kỹ các biểu hiện lâm sàng và phân tích dịch tễ học.

Cần phân biệt với bệnh tụ huyết trùng trâu, bò (bệnh cũng phát ra lẻ tẻ, sưng hầu, khó thở nhưng máu vẫn đỏ, lách không sưng, không nhũn); bệnh do Clostridium (xác chết trương to và chết đột ngột); bệnh do Leptospira thể cấp tính, bệnh Lê dạng trùng (nước đái màu đỏ, niêm mạc vàng, máu loãng và nhớt); hiện tượng trúng độc (con vật chết nhanh, không sốt, chết lẻ tẻ hoặc chết hàng loạt một lúc, không lây lan).

1.4.3.2. Chẩn đoán vi khuẩn học 

* Cách lấy bệnh phẩm

Nếu con vật sống thì lấy máu ở tĩnh mạch tai, trước khi lấy máu phải sát trùng bằng cồn iod 5%, đợi khô, đâm kim thẳng vào tĩnh mạch cho máu chảy thẳng vào ống nghiệm. Sau khi lấy máu xong, sát trùng kỹ chỗ lấy máu bằng cồn iod 5%. Nếu con vật chết cắt lấy một mẩu tai cho vào lọ, sát trùng hoặc đốt vết cắt.

Trường hợp cần thiết có thể lấy lách: Dùng cồn sát trùng vùng gian sườn số 8 bên trái, dùng dao rạch 1 đường nhỏ, lấy panh kẹp lách, lôi ra, cắt một mẩu nhỏ cho vào lọ nút kín.

Đốt kỹ chỗ mổ hoặc dùng bông tẩm cồn iod 5% nút kín chỗ mổ.

* Làm tiêu bản, nhuộm Gram tìm vi khuẩn

Trực khuẩn nhiệt thán to, 2 đầu vuông, đứng riêng lẻ hoặc thành chuỗi ngắn, có giáp mô bao bọc xung quanh, bắt màu gram dương.

Khi làm tiêu bản, để khô, cố định bằng cồn trong 3 phút, sau đó nhuộm bằng thuốc nhuộm Giemsa. Tế bào vi khuẩn thường đứng thành đôi hoặc chuỗi ngắn, hai đầu vuông. Phương pháp nhuộm Gram không phát hiện được giáp mô.

Có thể nhuộm và quan sát giáp mô bằng phương pháp McFadyean's

* Nuôi cấy bệnh phẩm vào các môi trường: nước thịt, thạch thường, thạch máu, quan sát tính chất mọc.

* Tiêm động vật thí nghiệm: đây là phương pháp quan trọng để chẩn đoán bệnh.

Dùng chuột lang để gây bệnh.

1.4.3.3. Chẩn đoán huyết thanh học - phản ứng kết tủa tạo vòng Ascoli 

Trong giáp mô của vi khuẩn nhiệt thán có một thành phần kháng nguyên gây kết tủa, gọi là kết tủa tố nguyên, có khả năng kích thích cơ thể động vật sinh ra kháng thể đặc hiệu gọi là kết tủa tố. Khi kết tủa tố nguyên gặp kết tủa tố sẽ gây hiện tượng kết tủa.

Phản ứng này do Ascoli phát hiện năm 1911, là phản ứng kết tủa dùng để phát hiện kháng nguyên chịu nhiệt của B. anthracis. Phản ứng không có tính đặc hiệu cao vì có thể lẫn với một số Bacillus spp. khác (Xem hình 8).

1.4.4. Biện pháp phòng trị bệnh

1.4.4.1. Phòng bệnh 

* Vệ sinh phòng bệnh

- Khi chưa có dịch:

Ở những vùng nhiệt thán, cần chú ý phòng bệnh cho súc vật thụ cảm để ngăn chặn không cho dịch xảy ra.

+ Tiêm phòng vắc xin triệt để cho súc vật thụ cảm là biện pháp chủ động, có hiệu quả và kinh tế để bảo vệ gia súc.

+ Xây dựng chuồng nuôi gia súc hợp vệ sinh, luôn giữ chuồng trại sạch sẽ và định kỳ sát trùng tiêu độc.

+ Kiểm dịch chặt chẽ việc xuất nhập gia súc trong vùng dịch.

+ Không mổ thịt, tiêu thụ thịt và sản phẩm của gia súc ốm, chết.

+ Không chăn thả súc vật gần nơi chôn xác chết do bệnh nhiệt thán, hoặc nơi mổ thịt súc vật mắc bệnh.

+ Cách ly theo dõi 15 ngày với gia súc mới mua về rồi mới cho nhập đàn.

- Khi có dịch xảy ra:

Khi đã xác định có bệnh nhiệt thán cần phải công bố dịch và thi hành chặt chẽ các biện pháp phòng chống dịch.

+ Tiêm phòng ngay cho toàn đàn gia súc.

+ Cách ly kịp thời gia súc mắc bệnh và nghi mắc bệnh, các chất thải của gia súc như thức ăn thừa, phân rác phải thu gom hàng ngày đem chôn sâu với vôi bột.

+ Tuyệt đối không mổ gia súc ốm hoặc chết, không bán chạy gia súc ốm.

+ Không vận chuyển gia súc qua vùng đang có dịch.

+ Xác của gia súc chết vì bệnh phải được chôn đúng kỹ thuật.

Đào hố hình chữ nhật dài 2 mét, rộng 0,6 mét, sâu 2 mét.

Xếp củi đầy dưới hố, đặt xác con vật lên trên, tưới dầu lên và đốt. Phải đốt đến khi con vật cháy hoàn toàn thành tro. Để vôi củ hay vôi bột lên lớp tro, lấp chặt hố lại rồi xây thành mả có biển báo "Gia súc chết do bệnh nhiệt thán".

+ Làm vệ sinh, tiêu độc kỹ nơi ô nhiễm mầm bệnh.

* Phòng bệnh bằng vắc xin

Trên thế giới hiện dùng phổ biến vắc xin Stêrn (vắc xin nhược độc chứa 10 triệu vi khuẩn có giáp mô/ ml, bổ trợ Saponin 0,5% trong dung dịch glyxerin - nước sinh lý 5%). Tiêm hàng năm vào thời gian 2 - 4 tuần trước mùa phát bệnh. Không tiêm vắc xin này 2 tháng trước khi giết mổ gia súc. Trước khi sử dụng vắc xin 1 tuần không được dùng kháng sinh.

Hiện nay, ở nước ta đang sử dụng một loại vắc xin nhược độc nha bào nhiệt thán, dùng tiêm dưới da cổ cho trâu, bò, ngựa với liều 1ml. Vắc xin cho miễn dịch 1 năm. Vì vậy, mỗi năm tổ chức tiêm phòng 1 lần vào tháng 3 - 4 dương lịch, tiêm bổ sung vào tháng 9 - 10 cho những gia súc mới mua về hoặc mới sinh ra.

Vắc xin được sử dụng ở vùng nhiệt thán với thời hạn tiêm phòng được quy định như sau:

- Đối với vùng có gia súc chết vì bệnh nhiệt thán, xác đã được đốt hoặc chôn, mả gia súc được xây và đổ bê tông, thì tiêm phòng 5 năm liên tục tính từ năm có dịch cuối cùng.

- Đối với vùng có gia súc mắc bệnh nhiệt thán bị giết mổ ăn thịt, phải tiêm phòng 10 năm liên tục tính từ năm có dịch cuối cùng.

- Đối với vùng có gia súc chết đã chôn, nhưng mả chưa xây và đổ bê tông thì phải tiêm phòng 20 năm liên tục tính từ năm có dịch cuối cùng (Xem hình 9).

1.4.4.2. Điều trị 

Khi xác định chính xác gia súc mắc bệnh nhiệt thán, tốt nhất là tiêu hủy bằng cách giết và đốt xác để tránh lây lan.

Đối với gia súc giống quý có thể tiến hành điều trị.

Do gia súc bệnh chết nhanh nên việc điều trị cần tiến hành sớm, có thể dùng kháng huyết thanh nhiệt thán chế qua ngựa.

- Nếu bệnh lây lan do nhiễm vi khuẩn nhiệt thán từ đất, có thể dùng kháng sinh điều trị cho động vật ốm và tiêm vắc xin tạo miễn dịch cho đàn xung quanh.

- Nếu dịch lây lan do các nguồn khác (ví dụ, lây qua thức ăn) cần điều trị bằng kháng sinh.

Các loại kháng sinh có thể dùng: Penicillin, Oxytetracycline, Amoxicillin, Cyprofloxacin, Gentamycin...

Liều lượng 25.000 - 30.000 UI/ kg TT, liệu trình ít nhất 5 ngày liên tục, không tiêm ít hơn 1 triệu UI/ ngày.

Trong quá trình điều trị bằng kháng sinh cần nâng cao sức đề kháng cho con vật bằng vitamin C, vitamin B1, Cafein.

..............................

..............................

..............................

Sách cùng loại